pvfcdalat--
http://pvfcdalat.com/vi-vn/N1-ve-mot-cach-nhin-nhan-doi-voi-viec-phat-trien-nong-nghiep-cong-nghe-cao-o-lam-dong-3614.html?lang=vi-vn&keytemp=ve-mot-cach-nhin-nhan-doi-voi-viec-phat-trien-nong-nghiep-cong-nghe-cao-o-lam-dong&id=3614--
-Về một cách nhìn nhận đối với việc phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Lâm Đồng-PVFC Đà Lạt
Đăng nhập
Tên đăng nhập
Mật khẩu
   Nhớ mật khẩu
Báo cáo doanh số
Từ ngày
Đến ngày
Báo cáo doanh số
.:.Hiển thị.:.
 Thông tin sản phẩm  Mã phiếu  Ngày

Đang thêm vào giỏ hàng...

  • Trang chủ
  • Về một cách nhìn nhận đối với việc phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Lâm Đồng
THỐNG KÊ
Về một cách nhìn nhận đối với việc phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Lâm Đồng

Về một cách nhìn nhận đối với việc phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Lâm Đồng
 
Trong khoảng 10 năm trở lại đây, ở nước ta nói chung và ở Lâm Đồng nói riêng cụm từ "phát triển nông nghiệp công nghệ cao" đã được dùng khá phổ biến khi nói về những thành quả phát triển nông nghiệp hoặc khi hoạch định những chính sách, chủ trương, đường lối, kế hoạch cho thực thi xây dựng và phát triển nông nghiệp.
 
Thu hoạch hoa ở làng hoa Thái Phiên - Đà Lạt. Ảnh: Văn Báu
Thu hoạch hoa ở làng hoa Thái Phiên - Đà Lạt. Ảnh: Văn Báu
 
Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng vào năm 2004 đã xác định Chương trình phát triển nông nghiệp công nghệ cao là 1 trong 6 chương trình trọng tâm để tập trung lãnh, chỉ đạo tổ chức thực hiện. Vào tháng 5/2011, Tỉnh ủy Lâm Đồng đãban hành Nghị quyết số 05/NQ-TU về "Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao giai đoạn 2011-2015" nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả và đẩy mạnh phát triển ngành nông nghiệp công nghệ cao, coi nông nghiệp công nghệ cao là mục tiêu, mục đích của sản xuất nông nghiệp địa phương.
 
Nhiều người đã nhận định rằng, qua gần 9 năm, từ khi bắt đầu tiến hành xây dựng (tính từ năm 2004) nền nông nghiệp công nghệ cao ở Lâm Đồng đã phát triển mạnh mẽ, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Nhận định trên xuất phát từ những hiện tượng, những biểu hiện có thể quan sát được cũng như một số số liệu thống kê đã được tập hợp.
 
Về hiện tượng, có thể thấy sự phát triển ồ ạt các nhà kính, nhà ni lông (dùng chất nhựa dẻo làm mái lợp), dùng hệ thống đèn chiếu sáng thắp suốt đêm để kích thích sinh trưởng cây trồng, dùng công nghệ nuôi cấy mô như một kỹ thuật nhân giống đại trà, dùng các hóa chất đặc hiệu kích thích sinh trưởng, bảo vệ thực vật, áp dụng kỹ thuật tưới tiên tiến...
Theo số liệu thống kê, Lâm Đồng hiện có gần 27.000ha đất canh tác "ứng dụng công nghệ cao", chiếm khoảng 8% tổng diện tích đất được gieo trồng hàng năm của tỉnh, trong đó có trên 10.000ha có doanh thu từ 200 triệu đồng đến 2 tỷ đồng/ha/năm. Lâm Đồng có 6.450ha trồng rau, hoa, chè, cá nước lạnh với hệ thống nhà kính, nhà lưới và công nghệ canh tác hiện đại. Riêng ở Đà Lạt, diện tích "nông nghiệp công nghệ cao" là 5.940ha, trong đó có 1.450ha nhà kính, nhà lưới.
 
Dựa trên những kết quả thu được có ý kiến nhận định rằng, Lâm Đồng đã trở thành một trong những địa phương đi đầu cả nước về ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp; và rằng Lâm Đồng đã có những bước phát triển vượt bậc "rất ngoạn mục" về nông nghiệp công nghệ cao!
 
Để đánh giá đúng thực chất những thành tựu đã đạt được cũng như để góp phần hình dung những vấn đề cần được lưu tâm trong phát triển nông nghiệp tỉnh nhà thời gian tới, thiết nghĩ có lẽ sẽ rất hữu ích nếu hệ thống hóa lại các giai đoạn phát triển nông nghiệp nói chung.
 
*
 
Thông qua tiến trình phát triển nông nghiệp trong quá khứ và hình dung sự phát triển này trong tương lai có thể nhận dạng 4 giai đoạn phát triển nông nghiệp với các tên gọi sau:
 
1. Nông nghiệp truyền thống.
 
2. Nông nghiệp công nghiệp hóa.
 
3. Nông nghiệp công nghệ cao.
 
4. Nông nghiệp sinh thái hoặc nông nghiệp bền vững.
 
Đặc trưng chủ yếu của nền nông nghiệp truyền thống là dựa vào điều kiện tự nhiên kết hợp với lao động chân tay và kinh nghiệm đã được tích lũy qua thực tiễn. Ông cha chúng ta đã tóm lược, đúc kết những đặc trưng chủ yếu này chỉ với 4 từ: "nước, phân, cần, giống".
 
Cơ sở của "nước" là nước thiên nhiên, nước mặt (nước mưa, nước ao hồ, sông ngòi) với tính chất là nước ngọt, nước sạch. "Phân" là phân chuồng, phân hoai về thực chất là phân hữu cơ. "Cần" là cần cù, chăm chỉ lao động, dùng sức người có thêm phần hỗ trợ giúp sức của súc vật kéo (trâu, bò, ngựa...). "Giống" cơ bản là các giống truyền thống, kết quả của sự chọn lọc tự nhiên và được duy trì phát triển thông qua kinh nghiệm.
 
Với nền nông nghiệp truyền thống việc sản xuất, cung cấp tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp chủ yếu theo hộ gia đình, nơi trao đổi mua bán hàng hóa là các chợ.
 
Nhược điểm lớn nhất của nền nông nghiệp truyền thống là năng suất lao động thấp, hiệu quả sử dụng tư liệu sản xuất, hiệu quả đầu tư, hiệu quả quay vốn không cao.
 
Nhược điểm này được khắc phục bởi việc cơ khí hóa nông nghiệp tức là sử dụng máy móc thiết bị cơ khí để thực hiện các khâu trong quy trình sản xuất nông nghiệp từ làm đất, gieo trồng, chăm bón đến thu hoạch. Để cơ khí hóa không thể sử dụng đất đai nông nghiệp một cách manh mún, nhỏ lẻ mà phải có những cánh đồng mẫu lớn. Việc tổ chức sản xuất nông nghiệp dần dần theo mô hình trang trại, nông trang, nông trường... Việc cơ khí hóa nông nghiệp được thực hiện tương đối trọn vẹn và đạt hiệu quả cao trong sản xuất cây lương thực có hạt như lúa, lúa mì, lúa mạch, ngô cũng như những loại cây có củ như khoai, sắn. Đối với những loại cây ăn trái, rau màu và hoa các loại thì chỉ có thể thực hiện cơ khí hóa được một phần vì việc thu hoạch vẫn phải làm theo kiểu thủ công, dùng lao động chân tay và sức người. Mặc dù vậy, việc cơ khí hóa nông nghiệp đã tạo ra năng suất lao động cao trong sản xuất nông nghiệp, giảm đáng kể sự tiêu hao sức lao động, làm tăng lợi nhuận, giá trị sản phẩm trên một đơn vị diện tích canh tác.
 
Cơ khí hóa nông nghiệp thực chất chỉ là một phần của công nghiệp hóa nền sản xuất nông nghiệp. Khi nông nghiệp được công nghiệp hóa thì các chuỗi tham gia tạo ra sản phẩm nông nghiệp từ trồng trọt đến thu hoạch, chế biến, tiêu thụ cũng sẽ có các đặc trưng giống như chuỗi sản xuất các sản phẩm nông nghiệp.
 
Một đặc điểm lớn có thể thấy được trong nền nông nghiệp được công nghiệp hóa là khuynh hướng chuyển hóa, biến những người nông dân thành công nhân nông nghiệp. Với tính cách của công nhân nông nghiệp người lao động mới chỉ dừng lại ở mức biết sử dụng, hoặc sử dụng thành thạo các kỹ thuật nông nghiệp ở mức độ được cơ khí hóa hoặc tự động hóa chứ chưa tham gia trực tiếp vào phát triển, sáng tạo kỹ thuật, sáng tạo công nghệ.
 
Ngoài những hiệu quả to lớn mang lại, người ta vẫn quan sát và nhận biết một số hệ quả không mong muốn của một số cách thức tiến hành việc cơ khí hóa, công nghiệp hóa sản xuất nông nghiệp. Đó là việc can thiệp tác động mạnh mẽ lên các hệ sinh thái, làm giảm đáng kể diện tích rừng tự nhiên, san gạt, xáo trộn đất đai, buộc phải sử dụng quá nhiều các hợp chất hóa học (phân hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, chất kích thích sinh trưởng, chất bảo quản sau thu hoạch...), khai thác sử dụng và tiêu hao đáng kể nguồn nước mặt, nước ngầm, ít nhiều phá vỡ cân bằng sinh thái, thậm chí góp phần gây ô nhiễm môi trường.
 
Trong khi nền nông nghiệp thực hiện các bước đi cơ khí hóa, tự động hóa và cố gắng công nghiệp hóa ở mức tối đa có thể thì nền khoa học kỹ thuật của thế giới cũng có những bước tiến khổng lồ trong các bộ môn, chuyên ngành, đặc biệt trong các lĩnh vực giao nhau hoặc giao thoa với nông nghiệp. Do kết quả của sự phối hợp, giao thoa này mà nhiều bộ môn, chuyên ngành mới ra đời như lý nông (nông nghiệp vật lý học), hóa nông (nông nghiệp hóa học), sinh nông (nông nghiệp sinh học), nông hóa thổ nhưỡng, sinh nông phóng xạ, thủy nông thủy canh... Hàng loạt những phương pháp kỹ thuật, công nghệ mới được nghiên cứu thành công và đưa vào áp dụng đại trà trong nông nghiệp như kỹ thuật nuôi cấy mô thực vật, động vật, kỹ thuật kích thích sinh trưởng và đột biến bằng phóng xạ, công nghệ biến đổi gen, công nghệ vi sinh, công nghệ cảm ứng... Chính trên nền phông này mà người ta cho ra đời một thuật ngữ mới để đánh dấu hay là nhìn nhận một nấc thang phát triển mới của nông nghiệp. Đó chính là thuật ngữ "nền nông nghiệp công nghệ cao".
 
Như vậy có thể cho rằng, nền nông nghiệp công nghệ cao là hình thái biểu hiện của nền nông nghiệp công nghệ hóa hoặc nền nông nghiệp được công nghiệp hóa ở mức độ cao hơn, sâu hơn, được sử dụng một cách đồng bộ các yếu tố phối hợp và do đó sẽ mang lại nhiều hiệu quả lớn hơn.
 
Một trong những đặc điểm khá quan trọng và dễ nhận biết khi so sánh với các nền nông nghiệp trước đó là thành phần và tính chất của nguồn nhân lực đã thay đổi đáng kể. Những người trực tiếp làm nông nghiệp công nghệ cao không chỉ là nông dân theo cách hiểu truyền thống mà còn có công nhân nông nghiệp, cán bộ kỹ thuật nông nghiệp và cả những nhà khoa học nông nghiệp, những người suốt đời lặn lội với đất đai đồng ruộng, với sản xuất nông nghiệp như giáo sư Lương Định Của. Bản thân người nông dân, lực lượng sản xuất nông nghiệp chủ yếu cũng không còn là người nông dân thuần túy. Họ vừa là nông dân, vừa là công nhân nông nghiệp, vừa là người hoạt động khoa học kỹ thuật. Như vậy, trong nền sản xuất nông nghiệp công nghệ cao thể hiện sự kết hợp hài hòa khăng khít giữa lao động chân tay và lao động trí óc. Chính sự kết hợp tuyệt vời này đã sản xuất ra các "kỹ sư chân đất", "nhà khoa học chân đất" với những sáng tạo kỹ thuật, sáng tạo công nghệ có giá trị lớn làm cho chính những kỹ sư được học hành đào tạo một cách cơ bản hoặc những nhà khoa học uyên bác cũng phải ngạc nhiên và thán phục!
 
Có lẽ cũng nên lưu ý là chính bản thân của nền nông nghiệp công nghệ cao chưa hướng đến việc khắc phục hoặc giải quyết triệt để những tác động bất lợi đối với môi trường tự nhiên, môi trường sống của con người mà hoạt động nông nghiệp có thể gây ra. Đó là chưa nói đến những sai lầm, thiếu sót mang tính chủ quan, phiến diện trong việc xây dựng và tiến hành nền nông nghiệp công nghệ cao khi người ta làm theo kiểu phong trào, đại trà và thiếu những tính toán căn cơ, những quy hoạch hợp lý. Điều này chỉ dẫn đến những hậu quả, di chứng tai hại mà đôi khi chỉ có thể quan sát, nhận biết sau thời gian dài.
 
Xuất phát từ cách tiếp cận có tính logic và hệ thống cũng như trên cơ sở phân tích biện chứng thì quan điểm dễ nhận được sự đồng tình hiện nay là phải xây dựng và phát triển một nền nông nghiệp bền vững, một nền nông nghiệp chú ý đúng mức cân bằng sinh thái trong tất cả các khâu sản xuất, có khả năng thỏa mãn những lợi ích lâu dài cho nhiều thế hệ sinh sống trên trái đất hiện nay cũng như mùa sau. Nền nông nghiệp sinh thái chắc chắn sẽ là nấc phát triển cao hơn nền nông nghiệp công nghệ cao.
 
*
 
Do những điều kiện lịch sử nhất định cũng như do hoàn cảnh thực tiễn của sự phát triển đất nước, ở nước ta nói chung trong đó có địa phương Lâm Đồng, nền nông nghiệp không hình thành, phát triển một cách tuần tự theo các giai đoạn như nói ở trên. Chúng ta đang chứng kiến sự tồn tại một nền nông nghiệp tổ hợp, đan xen, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại mà trong sự thực hành và phát triển hầu như có đầy đủ các yếu tố của nông nghiệp truyền thống, nông nghiệp công nghiệp hóa và nông nghiệp công nghệ cao. Nếu biết sử dụng, phát huy những lợi thế của cả 3 nền nông nghiệp ấy một cách tối ưu, đồng thời khắc phục được những thiếu sót, nhược điểm đã nhận biết của mỗi phương thức sản xuất nông nghiệp riêng biệt tốt sẽ gặt hái được những thành quả lớn hơn, tốt đẹp hơn.
T. Nhung (http://baolamdong.vn)



LIÊN KÉT